Bùi Giáng - Atabook.com
Cập nhật lần cuối vào ngày 30/01/2018

Bùi Giáng

Atabook.com - Chia sẻ. Kết nối. Truyền cảm hứng.
Bùi Giáng (1926 - 1998) là một nhà thơ, dịch giả, nhà nghiên cứu văn học của Việt Nam. Ông bắt đầu nổi tiếng từ thập niên 1960 với tập "Mưa nguồn". Sáu Giáng là cái tên thân mật mà bạn bè đặt cho ông theo cách gọi của người miền Nam. Ngoài ra, ông còn có các bút danh khác: Bán Dùi, Bùi Giàng Dúi...

 
Thi sĩ Bùi Giáng
Thi sĩ Bùi Giáng (1926-1998)

Bùi Giáng sinh ngày 17-12-1926 tại làng Thanh Châu thuộc xã Vĩnh Trinh huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình giàu có. Sau khi học xong bậc tiểu học ở trường Bảo An tại huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam [học với thầy Lê Trí Viễn], năm 1939 Bùi Giáng được gia đình cho ra Huế tiếp tục học ở Trường Trung học Thuận Hóa. Tại đây, ông có học các thầy Cao Xuân Huy, Hoài Thanh, Đào Duy Anh, ...

Đang học thì Thế chiến thứ hai nổ ra, năm 1940 Bùi Giáng về lại Quảng Nam ... chăn bò.[Căn cứ theo tiểu sử do Bùi Giáng tự ghi. Một số thông tin cho là ông chăn dê, có lẽ xuất phát từ bài thơ Nỗi Lòng Tô Vũ của ông, trong đó ông có ghi chú: "kỷ niệm một đoạn đời 15 năm chăn dê ở núi đồi Trung Việt Nam Ngãi Bình Phú"]. Việc chăn bò này không phải ông làm thuê cho người khác mà là ông tự mua bò để chăn.

Năm 1942, Bùi Giáng quay trở lại Huế. Theo tiểu sử tự ghi của Bùi Giáng gửi cho thầy Thích Nguyên Tạng (chùa Pháp Vân, Gia Định, Sài Gòn) trong cuốn sổ tay vào buổi trưa ngày 10/11/1993, thì lý do lần này ông trở ra Huế vì ... nhớ nhung gái Huế!

Năm 1945, Bùi Giáng lấy vợ lần đầu ở tuổi 19, vợ là bà Phạm Thị Ninh xinh đẹp có tiếng, cũng con nhà giàu. Nhưng không may năm 1948, bà bị bệnh, sinh non và cả 2 mẹ con cùng chết. Nhiều người cho rằng đây là một trong những lý do khiến Bùi Giáng bị điên từ lúc trẻ.

Năm 1949, Bùi Giáng nhập ngũ, tham gia khánh chiến chống Pháp, làm bộ đội công binh. Hai năm sau thì ông giải ngũ.

Năm 1950, ông thi đỗ Tú tài đặc biệt do liên khu V tổ chức, được cử ra Hà tĩnh tiếp tục học. Mất cả 1 tháng rưỡi để đi bộ đường núi từ Quảng Nam ra Hà Tĩnh, nhưng khi đến nơi ông quyết định không học, trở về quê chăn bò lần hai.

Năm 1952, Bùi Giáng tiếp tục ra Huế để thi Tú tài 2 ban văn chương. Sau khi thi đỗ, ông vào Sài Gòn ghi danh học Đại học Văn khoa.

Năm 1955, ông bắt đầu nghiên cứu về Nguyễn Du và Truyện Kiều, Bà Huyện Thanh Quan, Chinh Phụ Ngâm

Năm 1957, ông ra mắt giảng luận về Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, giảng luận về Chu Mạnh Trinh, giảng luận về Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị do nhà xuất bản Tân Việt ấn hành.

Năm 1965, nhà ông bị cháy làm mất nhiều bản thảo của ông


Năm 1969, ông bắt đầu "điên rực rỡ" (chữ dùng của Bùi Giáng)

Năm 1970, Bùi Giáng bắt đầu lang thang du hành khắp Lục tỉnh (tức đồng bằng sông Cửu Long). Bùi Giáng cho biết ở khách sạn Long Xuyên, bà chủ khách sạn cho ở đầy đủ tiện nghi không lấy tiền.

 
Năm 1971, Bùi Giáng quay trở lại sống ở Sài Gòn và bắt đầu "điên rồ lừng lẫy chết đi sống lại vẻ vang", "rong chơi như hài nhi (con nít)" (chữ dùng của Bùi Giáng) và yêu điên cuồng kỳ nữ Kim Cương.

Từ năm 1985, Bùi Giáng về ở với người cháu rể gọi ông bằng bác tên là Nguyễn Thanh Hoài.

Năm 1998, Bùi Giáng mất tại bệnh viện Chợ Rẫy vào ngày 07-10-1998 sau một cơn tai biến, hưởng thọ 72 tuổi. Mộ phần ông hiện ở nghĩa trang Gò Dưa - Thủ Đức (TP. Hồ Chí Minh).

Cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, khi viếng linh cữu Bùi Giáng, đã viết lưu niệm trong sổ tang như sau:

Bùi Giang Bàng Dúi Bùi Giàng
Ô hay trăm ngõ bàng hoàng lỗ không
Lỗ không trời đất ngỡ ngàng
Hoá ra thi thể là ngàn hư vô

Nhớ thương vô cùng là từ
Là từ vô tận ứ ừ viễn vông

Những giai thoại về một "ông điên" Bùi Giáng

Kể từ năm 1969, khi "bắt đầu điên rực rỡ" như chính ông tự ghi trong tiểu sử, Bùi Giáng sống những năm tháng lang thang khắp Lục tỉnh và trên các đường phố Sài Gòn.  Trên đầu ông đội cái nón mơ, vai đeo một cái bị to, một tay chống gậy nhìn không khác gì một người ăn mày và cứ thế lầm lũi đi không để ý đến ai cả.

Mà ông ăn xin thật.
Hàng ngày, ông đi đến các nơi đông người ngả nón ra xin tiền. Khi nào đói bụng, ông lại ghé vào các tiệm ăn sang trọng, đứng chờ thực khách ăn xong liền lễ phép xin các đồ ăn thừa. Ông đổ tất cả vào cái cà mèn rồi đem ra ngoài tìm chỗ nào vắng vẻ, lẳng lặng ăn một cách ngon lành. Khi nào khát nước, ông ra phong- ten cúi xuống uống, xong đi tìm chỗ nào mát ông để cái bị xuống gối đầu, làm một giấc ngủ bình an. Đôi khi người ta còn thấy ông lôi ra các cuốn sách ngoại quốc ở trong bị, ông đọc và ngâm thơ của họ, và của ông. Rồi ông ghi chép các câu thơ của ông mới làm xong.

Có lần ông khỏa thân trong tư thế trồng chuối ở giữa sân trường Vạn Hạnh (Sài Gòn) trong tiếng la oai oái vì xấu hổ của sinh viên nữ xem lẫn tiếng cười khoái trá của các nam sinh. Lại có hôm trời Sài Gòn nóng bức quá, thế là ông cởi hết quần áo, trần truồng tự nhiên, lội xuống các bồn nước ở các công viên đường Nguyễn Huệ, trước cửa Tòa Đô Chánh ông tắm một cách thoải mái. Đôi lúc ông mót tè, ông cũng thản nhiên vạch quần ra tè ngay trên đường phố truớc mặt nhiều người qua lại. Mọi người trông thấy nhưng chẳng ai trách ông một lời nào cả, họ lắc đầu thương hại cho ông già điên.

Bùi Giáng điên hay tỉnh
Một chân dung khác của thi sĩ Bùi Giáng

 
Cơm thì ăn xin, nước có các nơi công cộng rồi, ông có tiêu xài gì đâu mà cần đến tiền. Ông đi xin như vậy lại có rất nhiều tiền người ta cho. Cứ tối đến, ông lôi hết tiền ra, ông đếm thấy nhiều nên vui và cười lớn. Rồi ông đi tìm các em bé mồ côi bụi đời lang thang trên khắp hè phố. Ông bảo tụi nó kêu nhau tập trung lại chung quanh ông. Ông vui đùa với chúng, rồi sau đó, ông kéo hết lũ trẻ đến quán cơm Bà Cả Đọi, ông bảo tụi nó là các cháu cứ việc ăn cho no nê thỏa thích, đứa nào muốn ăn cái gì thì cứ ăn. Xong ông trả tiền hết, rồi ông chia tay các cháu. Ông đi tìm chỗ nào kín ông làm một giấc đến sáng.

Hay là cái điên của một thiên tài?

Có thể nói Bùi Giáng là một trong những trường hợp đặc biệt của văn đàn Việt Nam. Thơ ông vẫn còn gây tranh cãi là Thơ Tiên hay Thơ Điên nhưng
không phải không có lý do mà  trên vòm trời văn hoá văn nghệ miền Nam trước đây, người ta coi Bùi Giáng như một "ngôi sao", bởi không chỉ là một nhà thơ, ông còn là một nhà nghiên cứu văn học và là một dịch giả xuất sắc.

Ông thông thạo các ngôn ngữ Pháp, Anh, Hán văn, và tự học tiếng Đức 6 tháng, đọc và dịch sách của triết gia Martin Heidegger. Về việc dịch này phải công nhận ông là một thiên tài bởi những ai sống lâu năm ở Đức chưa chắc dịch được tác phẩm lưu loát như Bùi Giáng. Ông còn dịch nhiều sách Pháp, Anh, Hán văn như Hamlet của Shakespeare, Hoàng tử bé của Saint Exupéry, Ngộ nhận của Albert Camus, Khung cửa hẹp, và Hoà âm điền dã của André Gide, Kim kiếm điêu linh của Ngọa Long Sinh...

Ngoài ra, ông đã biên soạn các tiểu luận triết học và văn học như Tư tưởng hiện đại, Thi ca tư tưởng, Lễ hội tháng ba, Con đường ngã ba, Con đường phản kháng, Đi vào cõi thơ...


Các tập thơ đã xuất bản:

- Mưa nguồn (1962)
- Lá hoa cồn (1963)
- Màu hoa trên ngàn (1963)
- Ngàn thu rớt hột (1963)
- Bài ca quần đảo (1963)
- Sa mạc trường ca (1963)
- Sa mạc phát tiết (1969)
- Mùi Hương Xuân Sắc (1987)
- Rong rêu (1995)
- Đêm ngắm trăng (1997)
- Thơ Bùi Giáng (Montréal, 1994)
- Thơ Bùi Giáng (California, 1994)
- Mười hai con mắt (2001)
- Thơ vô tận vui (2005)
- Mùa màng tháng tư (2007)


Các tác phẩm của Bùi Giáng có trên ATABOOK

> Mắt buồn

Tham khảo và trích dẫn

• Wikipedia.org ►Bùi Giáng
• Phạm Chu Sa - Kỷ niệm gặp thi sĩ "điên" Bùi Giáng
• Quangduc.com ►Bùi Giáng, thơ Tiên hay thơ Điên
• Thu Giang - Bùi Giáng tỉnh hay điên

 
Bình luận (0)