Dalai Lama (Đạt-lai Lạt-ma) 14 - Atabook.com
Cập nhật lần cuối vào ngày 27/01/2018
Dalai Lama, Đạt-lai Lạt-ma 14

Đạt-lai Lạt-ma
Nhà hoạt động tôn giáo (1935 -  )


Đạt-lai Lạt-ma là ai?

Đạt-lai Lạt-ma (tiếng Anh: Dalai Lama, tiếng Tạng: Tenzin Gyatso, phiên âm theo tiếng Việt:
Đăng-châu Gia-mục-thố) sinh năm 1935, là nhà lãnh đạo thế quyền và giáo quyền của nhân dân Tây Tạng, người đã và đang nỗ lực đưa Tây Tạng trở thành  quốc gia độc lập, thoát khỏi sự thống trị của nhà cầm quyền Trung Quốc. Sư hiện sống lưu vong tại Dharamsala - miền Bắc Ấn Độ.

Theo một công trình nghiên cứu cá nhân của giáo sư Eric Sharp thuộc Đại Học Sydney (Australia), Đạt-lai Lạt-ma thứ 14 được xem là một trong số những thánh nhân của thế kỷ 20. [Hai người châu Á còn lại là cố thi hào Ấn Độ Rabindranath Tagore (1861-1941) và Mahātma Gandhi (1869-1948)]


Đạt-lai Lạt-ma sinh vào năm nào? Ở đâu?


Đạt-lai Lạt-ma sinh ngày 06-07-1935 tại làng Taktser thuộc vùng Đông Bắc Tây Tạng trong một gia đình nông dân. Tên của Sư trước khi được thừa nhận trở thành vị Đạt-lai Lạt-ma thứ 14 là Lhamo Dhondup.

Hoạt động trước khi sống lưu vong


Năm 1937: Khi được 2 tuổi, Sư được thừa nhận là Đạt-lai Lạt-ma thứ 14, theo truyền thống Tây Tạng như là Hóa thân của Đạt-lai Lạt-ma thứ 13, cũng là hiện thân của Bồ Tát Quán Thế Âm, hiện thân của lòng từ bi.

Ngày 22-2-1940: Lúc lên 5 tuổi, Sư được tấn phong tước vị, chính thức trở thành nhà lãnh đạo chính trị và tôn giáo cho 6 triệu người.


Đức Đạt-lai Lạt-ma tuổi thanh thiếu niên

Ngày 17 tháng 11 năm 1950: Ở tuổi 15, Đạt-lai Lạt-ma 14 đảm nhận trọng trách là người lãnh đạo thế quyền của người dân Tây Tạng (head of the State and Government) sau khi có khoảng 80.000 quân lính của Trung Quốc tấn công vào Tây Tạng.

Đức Đạt-lai Lạt-ma - nhà lãnh đạo tinh thần Tây TạngNăm 1954: Sư đã đến Bắc Kinh để thương thuyết hòa bình với chủ tịch Mao Trạch Đông và những nhà lãnh đạo Trung Hoa khác, gồm Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình. Tuy nhiên, các cuộc đàm phán trong chuyến đi này không mang lại kết quả.

Năm 1958: Sư tham dự kỳ thi đầu tiên tại các đại học Phật giáo Drepung, Sera và Ganden. Kỳ thi cuối cùng được tổ chức tại Jokhang, thủ đô Lhasa trong thời gian lễ hội Monlam, tháng giêng theo lịch Tây Tạng.


Năm 1959: Sư hoàn tất học vị cao nhất của Phật giáo Tây Tạng là Geshe Lharampa, tương đương với Tiến sĩ triết học Phật giáo (Doctorate of Buddhist Philosophy).

Cũng trong năm này, Sư buộc phải sống lưu vong ở Dharamsala thuộc miền Bắc Ấn Độ sau khi các cuộc biểu tình ôn hòa kêu gọi binh lính Trung Quốc phải rút khỏi Tây Tạng của nhân dân Tây Tạng đã bị quân đội Trung Quốc trấn áp quyết liệt khiến 200,000 đến 1 triệu người Tây Tạng bị giết chết và khoảng 6,000 chùa chiền bị phá hủy.

Hoạt động sau khi sống lưu vong

Năm 1963: Đạt-lai Lạt-ma đã ban hành một hiến pháp dân chủ (democratic constitution) hoàn toàn dựa trên giới luật của nhà Phật và bản Hiến chương Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc để biên soạn và chuẩn bị cho một mô hình đất nước Tây Tạng tự do ở tương lai.  

Đức Đạt-lai Lạt-ma, thánh nhân của thế kỷ 20Năm 1965: Sư đến tham dự đại lễ Phật Đản Phật lịch 2500 tại Ấn Độ, đã gặp được Thủ tướng Ấn Độ là ông Jawaharlal Nehru, và ông Chu Ân Lai, đàm phán về vấn đề của Tây Tạng.


Năm 1987: Đạt-lai Lạt-ma tham dự một hội nghị nhân quyền tại thủ đô Washington, Hoa Kỳ. Sư đề xuất một Chương trình Hòa bình Năm điểm bao gồm:

1. Biến Tây Tạng thành một khu vực hòa bình
2.
Chấm dứt việc di dân Trung Hoa đang de dọa sự tồn tại của dân tộc Tây Tạng;
3. Tôn trọng các quyền dân chủ, tự do và quyền làm người của dân Tây Tạng;
4. Phục hồi và bảo vệ môi sinh của Tây Tạng và chấm dứt việc sử dụng đất Tây Tạng để sản xuất vũ khí nguyên tử và bỏ đồ phế thải nguyên tử;
5. Khởi sự thương thảo ngay về quy chế tương lai của Tây Tạng và bang giao giữa Tây Tạng với Trung Hoa.

Ngày 9 tháng 10 năm 1991: Trong khi phát biểu tại Đại học Yale (Hoa Kỳ), Sư bày tỏ ý định muốn trở về thăm Tây Tạng để đích thân đánh giá tình hình chính trị nơi ấy. Sư nói: Tôi thật sự lo lắng vì tình cảnh bạo động có lẽ sẽ bùng nổ. Tôi muốn làm cái gì đó để chặn đứng lại... chuyến viếng thăm của tôi sẽ là một cơ hội mới để làm tăng thêm sự cảm thông và tạo ra một nền tảng để giải quyết.

Đạt-lai Lạt-ma 14 thường nói rằng: Tôi chỉ là một tu sĩ Phật giáo bình thường, không hơn, không kém (I am just a simple Buddhist monk - no more, no less). Sư hiện sống trong một tịnh thất nhỏ ở Dharamsala, thức dậy vào lúc 4 giờ sáng, ngồi thiền, rồi tiếp tục làm việc theo thời khóa biểu của văn phòng chính phủ, tiếp khách và diễn giảng giáo lý cho các khóa tu hoặc chứng minh các đại lễ.

Xem thêm: Tây Tạng và cuộc đời của Đức Đạt-lai Lạt Ma

 


Danh ngôn - Những câu nói nổi tiếng của Đạt-lai Lạt-ma

Danh ngôn, những câu nói nổi tiếng của Đạt-lai Lạt-ma 14
 

• Hạnh phúc không phải là thứ có sẵn. Hạnh phúc đến từ hành động của chính ta.
Happiness is not something ready-made. It comes from your own actions.

• Nếu có thể, hãy giúp đỡ người khác. Nếu không làm được vậy thì ít nhất đừng hại họ.
If you can, help others; if you cannot do that, at least do not harm them.

• Bằng bạo lực, bạn có thể giải quyết được một vấn đề, nhưng đồng thời, bạn đang gieo các hạt giống bạo lực khác.
Through violence, you may ‘solve’ one problem, but you sow the seeds for another.

• Mỗi ngày, khi thức dậy, bạn hãy nghĩ rằng hôm nay tôi may mắn còn sống, tôi có cuộc sống con người quý giá, tôi sẽ không phí phạm cuộc sống này.
Everyday, think as you wake up, today I am fortunate to be alive, I have a precious human life, I am not going to waste it.

• Nếu bạn nghĩ rằng bạn quá nhỏ bé để tạo ra sự khác biệt, hãy thử ngủ với loài muỗi [rồi bạn sẽ biết]
If you think you are too small to make a difference, try sleeping with a mosquito.

• Tôi không muốn cải đạo người khác theo đạo Phật. Tất cả các tôn giáo lớn, khi hiểu một cách đúng đắn, đều có tiềm năng phục vụ cái tốt.
I don't want to convert people to Buddhism — all major religions, when understood properly, have the same potential for good.

• Tôn giáo của tôi rất đơn giản. Tôn giáo của tôi là sự tử tế.
My religion is very simple. My religion is kindness.

• Hãy nhớ rằng khi không đạt được những gì bạn muốn, đôi lúc, lại là sự may mắn tuyệt vời.
Remember that not getting what you want is sometimes a wonderful stroke of luck.

• Nếu không yêu thương chính mình, bạn không thể yêu thương người khác. Nếu bạn không có từ bi đối với mình, bạn không thể phát triển lòng từ bi đối với người khác.
If you don’t love yourself, you cannot love others. If you have no compassion for yourself then you are not able of developing compassion for others.

• Trong cuộc chiến vì tự do, chân lý là vũ khí duy nhấtchúng ta sở hữu.
In our struggle for freedom, truth is the only weapon we possess.

• Hãy dang tay ra để thay đổi nhưng nhớ đừng làm tuột mất các giá trị mà bạn có.
Open your arms to change but don’t let go of your values.

• Hạnh phúc con người và sự thỏa mãn con người cần phải phát xuất từ chính mình. Sẽ là một sai lầm nếu ta mong mỏi các thỏa mãn cuối cùng đến từ tiền bạc hoặc từ máy vi tính.
Human happiness and human satisfaction must ultimately come from within oneself. It is wrong to expect some final satisfaction to come from money or from a computer.

Bình luận (0)